Nhập Định Là gì

Chúng tôi rất vui mừng được chia sẻ kiến thức sâu sắc về từ khóa Nhap dinh la gi để tối ưu hóa nội dung trang web và chiến dịch tiếp thị trực tuyến. Bài viết cung cấp phương pháp tìm kiếm, phân tích và lựa chọn từ khóa phù hợp, cùng với chiến lược và công cụ hữu ích. Hy vọng thông tin này sẽ giúp bạn xây dựng chiến lược thành công và thu hút lưu lượng người dùng. Cảm ơn sự quan tâm và hãy tiếp tục theo dõi blog để cập nhật kiến thức mới nhất.

Nhập định là gì? Nhập định là lúc tinh tấn dụng công, hơi thở của mình ngừng lại không còn hô hấp nữa. Đây không phải là chết, đây tức là nhập định hay còn gọi là nhập sơ thiền.

Bạn Đang Xem: Nhập Định Là gì

Cảnh giới lúc nhập định thì không có một tí vọng tưởng nào, trong tâm một niệm chẳng nẩy sinh, bụi trần chẳng nhiễm. Nếu có thể đi đứng nằm ngồi không sinh một niệm nào, không nhiễm ô bụi trần thì đó là lúc dụng công đấy. Không nhất định ngồi mới gọi là dụng công tham thiền. Người học Phật một khi đã Nhập định thì có thể ở trong định bao lâu tùy ý. Như một tuần, vài tháng, 10 năm…hoặc có khi cả vài ngàn năm như Tôn giả Ma Ha Ca Diếp hiện nay đang ở núi Kê Túc – Trung Hoa.

  • Các cảnh giới trên bước đường học Phật.
  • Định lực là gì.
  • Ngũ Ấm Ma là gì.
  • Ma Ba Tuần là gì.
  • Quỷ hấp tinh là quỷ gì.
  • Hành Dịch bệnh quỷ vương Lệ quỷ.
  • Cách phòng tránh Tẩu hỏa nhập ma khi thiền
Nhập Định là gì
Nhập Định là gì
*

Tuy vậy cần phải ghi nhận rằng, nhập định chỉ là cảnh giới, nó không có tức thị đã giác ngộ hay thoát ra khỏi sanh tử luân hồi. “Như bậc tham thiền khi nhập định thấy định cảnh mênh mang rỗng không trong suốt, tự tại thanh nhàn, rồi sanh niệm ưa thích; hay khi tỏ ngộ được một đạo lý cao siêu, rồi vui mừng chấp giữ lấy, cũng đều thuộc về “có tướng.” Và đã “có tướng” tức là có hư vọng…

Lúc còn ngồi thiền, còn nhiếp tâm, còn tham thoại đầu, còn nhập định xuất định, đều còn ở trong vòng phương tiện. Và thật ra cảnh nội chứng còn bước những nấc thang từ thấp đến cao. Chừng nào đến bậc vô tu, mới không còn dùng phương tiện, mới có thể nói rằng các pháp đều không. Nếu không được như vậy, thì một pháp nhỏ như mảy bụi cũng đều phải sở hữu thật; vì gần lửa còn thấy nóng, ở giữa sương tuyết còn thấy lạnh, một mũi gai nhỏ đâm vào thịt còn biết đau, đâu có cái gì là không?”

Sơ thiền này khác hẳn với sự ngủ nghỉ, quý-vị đừng nhận định rằng ngủ tức là nhập định. Ngủ không những là còn hô hấp, mà nhiều người còn ngáy pho pho khiến kẻ khác nghe như sấm vậy. Bởi vậy sự hô hấp của quý-vị đã ngừng hay chưa, những vị thiện-tri-thức nhìn sẽ biết ngay. Có kẻ nói rằng: “Tôi cảm thấy là tôi không còn hô hấp nữa.” Ðó tức là giả, tức là mạo xưng. Nếu như biết thì mình vẫn chưa nhập được sơ thiền. Nên không thể đem nhãn hiệu giả ra rao bán tốt.

Nhập Ðịnh Là Gì? Nhập Định Không Phải Là Ngủ

Có người hỏi tôi: “Nhập định và ngủ khác nhau ở ở đâu?” Nói sơ qua thì khi nhập định, hành giả ngồi ngay ngắn, sống lưng thẳng, hô hấp có thể ngừng, mạch có khi không đập, trông vẻ ngoài như thể người chết, nhưng tri giác thì vẫn có đủ. Nhập định thì ngồi yên không động, có khi trong một ngày, hay mười ngày, cho tới cả tháng. Còn như nếu là người ngủ, thì thân xiêu vẹo. đầu nghiêng ngả, hơi thở ra vào phì phò, có lúc còn phát ra tiếng ngáy như sấm. Ðó là nơi khác nhau.

Thực tập thiền cũng ví như người đi học, từ tiểu học, qua trung học, ĐH, rồi tới thời đoạn nghiên cứu, sau mới được cấp bằng Tiến sĩ. Pháp môn tham thiền cũng giống như vậy, chia là bốn nấc, gọi là tứ thiền. Xin giảng sơ lược như sau:

Sơ thiền, còn gọi là “Ly sanh hỷ lạc địa”. Ðây là trạng thái đưa hành giả lìa hẳn cảnh giới chúng sanh, nên đạt được một trạng thái khoái lạc. Khoái lạc này rất khác khoái lạc của phàm phu, bởi vì nó là công phu do tự tánh mang lại. Khi nhập sơ thiền, hơi thở ngưng lại. Ðây là nói ngoại hô hấp đình chỉ, nhưng nội hô hấp bất đầu hoạt động, giống như hiện tượng kỳ lạ đông miên của nhiều loài vật. Lúc đó, tâm thì trong suốt như nước, sáng như gương, soi chiếu tới bổn thể của tự tánh, nhưng vẫn hay biết là mình đương ngồi thiền.

*

Nhị thiền, gọi là “Ðịnh sanh hỷ lạc địa”. Vào trong định này, hành giả kinh nghiệm một thứ khoái lạc không gì sánh được, đây là “thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”, bởi trong cảnh giới này hành giả thấy khoái lạc quên luôn cả đói, có thể nhịn ăn, nhịn uống trong nhiều ngày mà không có vấn đề gì. Tuy nhiên, chớ chấp trước vào thành tựu đó. Như quả có ý như vậy, Dự Án BĐS có thể tiêu tán, dễ đi vào cảnh giới ma, nên tất cả chúng ta phải cẩn thận. Trong định này, không những hô hấp đình chỉ mà mạch cũng ngưng đập. Khi nào thoát ra khỏi định, thân thể lại trở lại hoạt động thông thường.

Tam thiền gọi là “Ly hỷ diệu lạc địa”. Hành giả lìa sự hoan hỷ trong nhị thiền, đạt tới một thứ khoái lạc kỳ diệu không thể nói ra được, song song cảm thấy hết thảy mọi thứ đều là Phật Pháp, mọi thứ đều là khoái lạc. Trong cảnh giới tam thiền, cả hô hấp và mạch đều đình chỉ, ý niệm cũng tạm ngưng. Lúc đó, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chẳng nghĩ phải, chẳng nghĩ quấy, một niệm cũng chẳng sanh. Tuy nhiên, hành giả cũng đừng tự hào, vì đó chỉ là một chặng trên phố tu mà thôi. Ðến được chỗ liễu thoát sanh tử hãy còn xa lắm, còn cách cả tám vạn bốn ngàn dặm đường nữa.

*

Tứ thiền gọi là “Xả niệm thanh tịnh địa”. Trong cảnh giới này, trong cả niệm khoái lạc cũng không còn, tất cả đều bị xả bỏ và hành giả đạt tới một trạng thái thanh tịnh, không còn gì phải tạo tác. Ðây cũng gọi là cảnh giới “vô vi vô sở bất vi.” Thời đoạn tứ thiền cũng chỉ là một chặng trên phố dụng công tham thiền, đừng nhận lầm tự cho tôi đã chứng quả, kẻo có thể phạm vào lỗi lầm của Tỳ kheo Vô Văn, mà đọa địa ngục.

Tứ thiền vẫn còn trong phạm vi phàm phu. Phải tinh tấn dấn bước nữa, tới cảnh giới “ngũ bất hoàn thiên” mới gọi là chứng quả thánh. Vậy mà tới đây vẫn chưa giải quyết và xử lý xong vấn đề sanh tử bởi chưa vượt khỏi vòng Tam giới. Ðiểm này phải nhận cho rõ, không thể mơ hồ được.

Cách Ngồi Thiền Nhập Định

Để đến được cảnh giới của Nhập Định, người tu thiền phải giữ giới cực tinh nghiêm, ngày đêm tính tấn dụng công không giải đãi mới mong có ngày thành tựu.

Hòa Thượng Tuyên Hóa Dạy: “Người dụng công tu đạo cần có tâm nhẫn nại. Bất luận trường hợp khó khăn gian khổ nào, cũng cần phải nhẫn thọ. Nhẫn nại thì mới có thể tới được bờ bên kia. Vì vậy trong những khi đả thiền thất đừng nên sợ khổ. “Khổ tận cam lai” tức thị đắng hết, ngọt lại. Nếu mình chưa lặn xuống tận đáy, mình sẽ không còn bao giờ vươn lên tận chóp đỉnh. Nhà cửa cao hằng ngàn trượng đều từ nơi mặt đất xây lên, không phải xây lên trong hư vô. Chính vì vậy cần hạ thủ tham thiền xứ sở cơ bản, tức là trừ bỏ vọng tưởng. Nếu mình có thể ngừng vọng tưởng, thì lúc đó:

Tâm thanh, thủy hiện nguyệt,

Ý định, thiên vô vân.

Tức là:

Lòng trong suốt, trăng hiện bóng nước.

Ý an định, trời xanh không mây.

Khi lòng thơi thản, trăm nạn tiêu hết. Ý yên định, mọi chuyện an bình. Rằng:

*

Tâm chỉ niệm tuyệt chân phú quý.

Tư dục đoạn tận chân phước điền.

Tức là:

Tâm ngừng, niệm dứt là sang giàu thật.

Lòng tư dục cạn, ruộng phước mới chân.

Tham thiền tức là dứt hết vọng, chỉ từ sự chân thật (khử vọng tồn chân). Cũng giống như sàng cát đãi vàng vậy; ở trong cát mà tìm vàng đó là chuyện rất khó khăn. Tuy nhiên, nếu mình muốn tìm vàng thì phải tìm trong cát, tất phải có lòng nhẫn nại. Quý-vị có muốn làm rõ Phật tánh của mình không? Muốn được minh tâm kiến tánh chăng? Vậy thì phải nhẫn nại tu hành, nhẫn nại tham thiền, nghiên cứu, lâu dần thì tất nhiên sẽ quán thông, sẽ khai ngộ; “ồ! Thì ra là vậy.”

Khi tham thiền thì mình đừng để ý đến chuyện khác, cứ một mực tham câu “Niệm Phật là Ai?” Phải tìm cho ra “Ai” đó, chỉ khi nào tìm ra rồi thì lúc đó mới ngừng tham. Công phu mình đã tới chỗ thuần thục rồi, thì tự nhiên sẽ gặt hái được kết quả tốt.

*

Xem Thêm : Trưởng Phòng Vật Tư Tiếng Anh Là Gì ? Đọc Ngay Để Có Câu Trả Lời

Khi ngồi trong thế kiết già, đem chân trái gác lên đùi phải, đem chân phải gác lên đùi trái. Ðó là vì chân trái thuộc về dương, chân phải thuộc về âm. Cho nên lúc ngồi thiền, chân trái (dương) thì ở phía trên, chân phải (âm) thì ở phía dưới, đó cũng giống như thể vô cực sinh thái xanh cực, thái cực sinh lưỡng nghi (tức là âm và dương).

Tuy ý nghĩa như vậy; nhưng để cho tiện, quý-vị muốn bỏ chân trái ở dưới, chân phải ở trên cũng được; bởi vì Pháp thì không nhất định, tùy theo thói quen của mỗi người, không cần thiết phải chấp trước một phương pháp, một tư thế nhất thiết nào cả. Ðể chân trái ở trên chân phải là một phương pháp mà thôi, không phải là một quy luật tuyệt đối; rằng quý-vị phải tuân theo như vậy.

Nói tóm lại, kiết già phu tọa là thế mình dễ nhập định nhất. Nếu mình có thể nhập định trong lúc đi thì ngồi hay là không ngồi đều không thành vấn đề. Cảnh giới lúc nhập định thì không có một tí vọng tưởng nào, trong tâm một niệm chẳng nẩy sinh, bụi trần chẳng nhiễm. Nếu có thể đi đứng nằm ngồi không sinh một niệm nào, không nhiễm ô bụi trần thì đó là lúc dụng công đấy. Không nhất định ngồi mới gọi là dụng công tham thiền.

Chuyện Nhập Định Của Các Thiền Sư: 1. Tiền Thân Của Khuy Cơ Pháp Sư

Theo Đại Đường Tây Vực Ký, Pháp Sư Huyền Trang dâng biểu tâu vua, xin phép đi Thiên Trúc thỉnh Kinh. Hồi đó nhà Ðường đương có pháp lệnh cấm tiệt việc xuất cảnh, nên biểu tấu của Sư không được vua Ðường Thái Tông phê duyệt. Tuy nhiên, vì đã có chủ ý từ trước, bất luận đã sở hữu phép hay là không, cuối cùng Sư vẫn nhất quyết ra đi.

Từ Tràng An xuất phát, Sư một mình cứ nhắm phía Tây mà hướng tới.

Có một hôm, Sư đi ngang qua một hang núi, thấy trước cửa hang có nhiều phân của loài dơi. Sư nghĩ rằng trong hang này ắt hẳn không có bóng người trú ngụ, vì nếu có, thì đâu có nhiều phân dơi như vậy! Ðộng lòng hiếu kỳ, Sư đi vô hang, và chẳng đi bao xa thì thấy một hình thù quái dị, như một quái vật, trên đầu thì tóc kết lại, ở đó chim làm thành một chiếc tổ, trong tổ chim nhỏ kêu chíp chíp! Mặt của quái vật thì phủ một lớp bụi đất dầy, hình thù như một tượng đá, Pháp sư lại gần quan sát kỹ: hóa ra đây là một vị tu hành già, đã nhập định từ lâu.

Sư lấy khánh gõ nhẹ, dụ cho vị này xuất định, và, chờ một lúc sau lão tăng mở màn nhúc nhắc. Sư hỏi ông vì lý do gì mà ngồi ở đây. Quai hàm lão tăng nhúc nhích được một lát thì có âm thanh phát ra như sau:

*

-Tôi chờ đức Phật Hồng Dương (tức Phật Thích-Ca) xuất thế để tôi có thể giúp Ngài hoằng dương Phật Pháp.

Ðến lúc nghe Pháp sư nói cho hay Phật Thích Ca đã nhập Niết-bàn từ lâu rồi, thì lão tăng tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi:

– Ðức Thích-ca Mâu-ni ra đời hồi nào?

– Ngài đã ra đời trên một ngàn năm nay và Ngài đã và đang nhập diệt từ lâu.

Lão tăng nói:

– Ðức Thích-ca đã nhập Niết-bàn ư? Vậy thì tôi lại nhập định chờ đức Phật Bạch Dương (tức Phật Di-lặc) ra đời để giúp Ngài hoằng dương Phật Pháp.

Pháp sư nói:

– Ông hà tất phải nhập định chờ đức Phật Di-lặc ra đời. Như vậy ông sẽ sở hữu thể bỏ lỡ thời cơ mật lần nữa. Chi bằng nay ông hãy theo tôi đi qua Chấn Ðán (tức Trung quốc). Ngày nào tôi trở về nước ông sẽ giúp tôi hoằng dương Phật Pháp.

Lão tăng suy nghĩ xong cho là có lý, bèn tỏ ý ưng thuận với lời đề xuất của Pháp sư Huyền Trang.

Pháp sư dặn dò như sau: “Thân thể này của ông đã quá cũ kỹ, ông nên đổi qua một thân mới. Khi tới Tràng An, ông xem nhà cửa nào lợp bằng ngói sắc vàng lưu ly thì tìm vào đó đầu thai. Ngày sau, khi tôi ở Thiên trúc thỉnh Kinh về, tôi sẽ tới đón ông”.

Dặn xong, hai người chia tay lên đường, người đi về phía Ðông, kẻ về phía Tây.

*

Năm Trinh Quán thứ 19 (công nguyên năm 645), ngày 24 tháng giêng, Ngài về tới Tràng An, với sự nghênh đón của tất cả mấy chục ngàn người, cả Tăng lẫn tục gia. Vua Ðường Thái Tông phái tướng quốc là Lương Quốc Công, và Phòng Huyền Linh tiếp đón Ngài. Sau này Ngài trụ trì ở chùa Hoằng Phúc làm công việc thông dịch Kinh điển Phật giáo.

Ngài lưu học tại Ấn-độ mười hai năm, cộng với thời kì đi về năm năm, thành thử Ngài coi như thể vị Tổ sư trong các Tăng sĩ du học. Kinh điển mang về Trung Hoa chứa trong năm trăm hai mươi cái rương, tính ra hơn sáu trăm bộ. Ngài cung hiến tất cả cho quốc gia. Vua Ðường vời đến triều kiến rồi ban thưởng cho Ngài.

Thoạt gặp vua Ðường, Ngài có lời mừng: “Cung hỷ chúa thượng!” Vua không hiểu ý tứ ra sao mới hỏi lại: -“Mừng về chuyện gì?”

– Mừng chúa thượng vừa có thái tử.

Vua Ðường khôn xiết ngạc nhiên, đáp lại rằng:

– Không có chuyện đó.

Pháp sư tự nghĩ: “Rõ ràng ta đã dặn dò lão tăng đến đây đầu thai, mà sao nay lại không thấy?” Ngài liền nhập định quan sát. Thôi rồi! Ông ta không chịu tìm cho kỹ lưỡng nên đã đầu thai lầm vào tôn phủ của Uất Trì Cung rồi! Ngài bèn tâu lên vua ngọn ngành sự việc. Ðường Thái Tông nói:

– Hóa ra sự thể như vậy. Pháp sư độ cho y đi.

*

Ngài tới thăm Uất Trì Cung, kể rõ sự tình. Khi thoạt trông thấy người cháu của vị công thần này, Ngài vô cùng hoan hỷ, bởi trang thiếu niên trông rất tuấn tú, tỏ dạng một hào kiệt, sau này ắt sẽ trở thành một pháp khí lớn. Do đó Ngài mở đầu nói ngay: “Ngươi hãy theo ta xuống tóc!”. Thiếu niên nghe nói tỏ vẻ không vui, đáp:

– Ðại sư nói gì? Bảo tôi xuống tóc ư? Ðâu có chuyện này được?

Xem Thêm : Phán đoán là gì?

Nói rồi, thiếu niên quay gót bỏ đi.

Pháp sư Huyền Trang chỉ từ cách tâu lại vua Ðường, nhờ vua vẹn toàn cho đoạn nhân duyên đó. Ðường Thái Tông bèn hạ chỉ, ra lịnh cho cháu của Uất trì Cung xuống tóc. Vị đại thần tiếp chỉ gọi cháu ra thì gặp ngay sự cự tuyệt của cháu. Y nói:

– Có lý nào như vậy! Vì cớ gì Hoàng Ðế bắt cháu phải xuống tóc? Ðể cháu gặp Hoàng Ðế nói cho rõ chuyện này!

Ngày hôm sau, Uất trì Cung mang cháu ra mắt vua. Thiếu niên tâu lên:

– Đại vương bảo thần xuống tóc, được lắm! Nhưng thần xin ba điều kiện kèm theo.

Ðường Thái Tông nói:

– Ngươi muốn bao nhiêu điều kiện kèm theo cũng được.

– Thần vốn thích uống rượu và không thể thiếu rượu. Vậy bất luận ở ở đâu, phải có một xe chất đầy rượu cho thần.

*

Nhà vua thầm nghĩ: “Giới của kẻ xuống tóc là không được uống rượu. Có điều Pháp sư Huyền Trang đã có lời dặn dầu điều kiện kèm theo nào thì cũng ưng thuận cho y.” Vua đáp:

– Ðược! Ta ưng thuận. Ðiều kiện thứ hai là gì?

– Thần biết rằng người xuống tóc không được ăn thịt, nhưng thần lại thích món này. Vậy bất luận thần ở ở đâu cũng phải có một xe thịt tươi đi theo thần.

– Ta ưng thuận. Còn điều kiện kèm theo thứ ba?

Người cháu của Uất trì Cung không thể ngờ rằng nhà vua lại chịu cho hai điều kiện kèm theo y vừa yêu cầu, y nói tiếp:

– Kẻ xuống tóc thì không thể có vợ, nhưng thần thì không thể thiếu phụ nữ. Vậy bất luận thần ở ở đâu cũng phải có một xe chở con gái đi theo thần.

*

Vua Ðường nghĩ bụng: “Ái chà! Ðiều kiện này làm thế nào mà cho được? Nhưng Pháp sư đã dặn, dầu điều kiện kèm theo nào thì cũng chấp thuận cho y”. Nghĩ vậy, vua đáp:

– Ðược! Ta hoàn toàn chuẩn y cả. Lúc bấy giờ ngươi xuống tóc được rồi!

Thiếu niên thấy không còn giải pháp nào khác để từ chối, đành miễn cưỡng nhận lời xuống tóc. Cho nên, tới ngày đã định, khi y đi đến chùa Ðại Hưng Thiên để làm lễ, thì theo sau y, là một xe chở rượu, một xe chở thịt tươi, một xe chở mỹ nữ. Trong những lúc đó, tại chùa, đã và đang có sự chuẩn bị sẵn sàng sẵn, nên lúc nghe tin đoàn người sắp tới, tiếng chống và tiếng chuông trong chùa đều nhất tề gióng lên. Thoạt nghe tiếng chuông trống, thiếu niên bừng tỉnh ngộ: “Ồ! Ta vốn là vị lão tăng năm đó, đến chỗ này để giúp Pháp sư Huyền Trang hoằng dương Phật Pháp”. Ngay đó, y đuổi hết cả đoàn ba xe về, và không cần một thứ gì nữa.

Thiếu niên đó, sau này là Ðại sư Khuy Cơ, và được người đương thời đặt danh hiệu là Tam Xa Tổ Sư.

Chuyện Nhập Định Của Các Thiền Sư: 2. Tôn giả Ma ha Ca Diếpvàamp; Hòa Thượng Hư Vân

Theo Cuộc Đờivàamp; Đạo Nghiệp của Hòa Thượng Hư Vân: “…Nguyện trước hết khi về nước là đi tham bái núi Kê Túc, nơi tôn giả Ma Ha Ca Diếp đang nhập định đợi Phật Di Lặc ra đời.

Tương truyền lúc tôn giả Ca Diếp vào núi, có bảy vị vua đi theo hộ vệ, không đành lòng trở về, ở tại đây tu hành, thành thần hộ pháp, tức miếu Đại Vương. Tôi đi thẳng lên chánh điện của núi; trong ngôi chánh điện có thờ tôn tượng tôn giả Ca Diếp. Tương truyền, khi tôn giả A Nan đến lễ bái thì cửa đá tự nhiên mở. Thánh cảnh trang nghiêm huyền diệu. Thạch đá tự trở thành cửa đá gọi là cửa Hoa Thủ. Ngài Ma Ha Ca Diếp đang nhập định bên trong. Cửa đá lớn tựa như cửa thành, cao quý vài trăm thước, rộng hơn trăm thước. Hai cánh cửa đều đóng nhưng đường lằn giữa hai cửa hiện rõ ràng.

Hôm ấy, du khách cùng người địa phương dẫn đường đến rất nhiều. Lúc tôi thắp hương lễ bái, tự nhiên nghe âm thanh của ba tiếng đại hồng chung; người địa phương đều vui mừng lễ bái theo và nói: “Hễ mỗi lần có bậc dị nhân đến thì đều nghe tiếng chuông trống, mõ khánh vang lên. Chúng tôi đã từng nghe tiếng khánh mõ, mà trước đó chưa từng nghe tiếng đại hồng chung. Nay Sư Phụ đến đây lễ bái lại nghe tiếng đại hồng chung, chắc đạo hạnh của Ngài cao lắm.”

*

Ngài Hư Vân thành tựu Tam vô lậu học thì ai cũng biết, bởi Ngài là bậc Long Tượng trong Phật pháp. Ngài cũng nhiều lần nhập Định, hồi ký của Ngài ghi lại:

“Năm Quang quẻ Tự thứ 28(1902/03). Gần ở thời gian cuối năm, núi non đều đóng tuyết, hang sâu khí lạnh buốt xương. Một mình tôi đơn độc tu trì trong am tranh, thân tâm thanh tịnh. Ngày nọ, sau khoản thời gian bỏ khoai vào nồi, tôi ngồi xếp bằng tròn đợi khoai chín, tự nhiên nhập định. Qua năm mới tết đến, tôi nhập định không biết thì giờ. Trên núi, gần am có những thầy như Phục Thành v.v…, lấy làm lạ vì sao đã lâu mà tôi chưa tới, nên đến am chúc mừng năm mới tết đến cùng tặng quà cáp. Họ thấy ngoài am đầy dấu chân hổ, mà chẳng thấy dấu chân người. Họ đi vào, nhìn kỹ, thấy tôi đang nhập định, liền đánh khánh khiến xả định.

*

Các thầy hỏi: “Thầy đã ăn cơm chưa?”

Tôi đáp: “Thưa chưa! Khoai vẫn còn trong nồi, chắc đã chín rồi.”

Mở nắp nồi ra, thấy mốc đầy cả tấc, nước đóng cứng như đá. Thầy Phục Thành chúc mừng nói: “Nhất định là thầy đã nhập định hơn nữa tháng rồi!”

Lần Ngài nhập Định khi đang giảng Kinh ở Thái Lan, năm 1907- 1908: “…Ngày nọ, khi đang ngồi thiền, tôi bỗng dưng nhập định, quên rằng mình đang giảng kinh. Tôi nhập định suốt bảy ngày. Tin này lan tràn cả thủ đô Xiêm La. Từ Quốc Vương, đại quan, cho tới thiện nam tín nữ, đều đến lễ bái. Sau lúc xuất định, giảng kinh xong, Quốc Vương thỉnh tôi đến hoàng cung thiết lễ cúng dường, chí thành quy y. Quan thân sĩ thứ cùng nhân dân quy y tôi cả vài ngàn người…”

( Nhập Định là gì – Theo Hòa Thượng Tuyên Hóa Khai Thị )

Tuệ Tâm 2021.

You May Also Like

About the Author: v1000

tỷ lệ kèo trực tuyến manclub 789club